Thầy Đồng trẻ Vương Thiệu Phong: Một thập kỷ theo đuổi văn hóa hầu đồng giữa xã hội nhiều định kiến

“Tín ngưỡng thờ mẫu” chủ yếu là Lễ Hầu đồng của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa ngày 1/12/2016, trở thành Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Hầu đồng chính là giá trị của Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tam Phủ của người Việt – là văn hóa bản địa, là một bảo tàng sống về văn hóa… thể hiện qua những bài chầu văn, những câu chuyện lịch sử lồng trong hát chầu văn, những điệu múa, trang phục, cách trang trí đền đài.

Khi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, thì trách nhiệm của người thanh đồng trong công tác bảo tồn di sản lại càng lớn hơn nữa. Tại Nghệ An nói riêng và các tỉnh lân cận nói chung, trong vòng vài năm trở lại đây, thầy đồng được người dân tin tưởng và nhắc nhiều chính là Vương Thiệu Phong.

Thông thường, người dân rất ít khi có dịp được nghe những thầy đồng trò chuyện, tâm sự về nghề nghiệp đặc trưng của mình. Lĩnh vực này vốn cũng chưa thực sự được báo chí đặc biệt quan tâm. Bởi nếu hiểu không đúng, người đọc sẽ dễ dàng bị nhầm lẫn giữa khái niệm “văn hóa tín ngưỡng” và “mê tín dị đoan”. Vì thế, việc chính các thầy đồng chia sẻ về công việc đặc thù của mình sẽ giúp công chúng có cái nhìn đúng đắn hơn về ngành nghề đặc thù này.

Gặp thầy đồng Vương Thiệu Phong sau khi “lên đồng”, trở về đời thường, anh dường như mở lòng nhiều hơn để thoải mái chia sẻ về công việc của mình. Anh tâm sự, nếu có một mơ ước nào đó cho công việc, anh hi vọng không chỉ những người đi trước mà cả thế hệ trẻ sẽ duy trì, tiếp nối và hiểu hơn về một trong những nét đẹp, di sản văn hoá đã được UNESCO ghi nhận bảo tồn để ngày càng trở thành chỗ dựa tinh thần của con người sau khi nhu cầu vật chất đã được đáp ứng đầy đủ.

Văn hoá hầu đồng đã đang và sẽ ngày một thu hút được nhiều bạn trẻ hơn

Văn hoá hầu đồng đã có từ cách đây rất lâu, nhưng có thể thấy gần đây lại thu hút sự chú ý mạnh mẽ hơn, là người trực tiếp làm công việc này, anh nhận xét gì về điều này?

Văn hoá hầu đồng trước đây bị xem là mê tín dị đoan. Từ sau khi UNESCO công nhận là di tích văn hoá của thế giới thì hầu đồng được công nhận và được biết đến nhiều hơn, ở trong nước và quốc tế. Do bản chất của bất kì một nền tôn giáo nào, cũng đều hướng tới Chân- Thiện-Mỹ, tín ngưỡng thờ Mẫu hay Đạo Mẫu cũng hội tụ đủ ba yếu tố đó.

Ngoài ra, nghi thức hầu đồng, có sự giao thoa giữa thế giới tâm linh và thế giới thực. Khung cảnh thực hành nghi thức lại có âm nhạc (Chầu Văn) và trang phục khăn áo đẹp, được tổ chức ở chốn linh thiêng là nhà đền, các nơi thờ tự. Bởi vậy tôi nghĩ văn hoá hầu đồng đã đang và sẽ ngày một thu hút được nhiều bạn trẻ hơn. Điều này được xem là bước tiến so với trước đây. Bởi vài năm trước, văn hóa hầu đồng chỉ hấp dẫn đối với những người lớn tuổi. Việc người trẻ quan tâm sẽ giúp văn hóa tín ngưỡng này được lan tỏa mạnh mẽ hơn. Đó là niềm hạnh phúc đối với những người làm nghề như tôi.

Anh đã theo hầu đồng được bao lâu rồi? Gia đình anh có ai theo trước anh không hay có tác động gì tới anh không?

Tôi theo hầu cũng gần 10 năm. Trước đây, mẹ tôi cũng là thanh đồng. Thuở nhỏ thì gia đình hướng cho tôi lập nghiệp bằng con đường học hành, thi cử như bao người khác. Tuy nhiên, tôi nghĩ nghề chọn người chứ người không chọn được nghề, nên cuối cùng tôi lại trở thành thầy đồng (cười). Tôi nghĩ có lẽ nếu hồi trước mình có theo đuổi một lĩnh vực khác thì cuối cùng cũng vẫn sẽ tìm đến nghề này. Tôi quan niệm phải thực sự yêu thích một công việc thì mới có thể gắn bó dài lâu. Niềm đam mê của tôi với văn hóa hầu đồng sẽ giúp tôi quyết tâm đi theo con đường này dù có khó khăn thế nào.

Được định hướng theo con đường học hành, thi cử, nhưng nghề hầu đồng đã chọn Vương Thiệu Phong.

Vấn hầu ấn tượng nhất, có lẽ là khi được đức Thánh Trần báo mộng

Trong 10 năm “làm việc cho Thánh” ấy, có lần hầu đồng nào mà anh nhớ nhất?

Hầu đồng thì mỗi lần là mỗi thú vị riêng, giống như mỗi lần ra ngắm hoa thì mỗi cảm xúc khác vậy. Vấn hầu ấn tượng nhất, có lẽ là khi đức Thánh Trần báo mộng hầu Ngài phải xiên lình! Trước khi vào hầu cũng hồi hộp vì chưa từng xiên bao giờ.

Thế nhưng khi vào hầu, tôi lại không thấy lo lắng hồi hộp nữa, mà thấy như mình trước kia đã từng rất nhiều lần thao tác động tác xiên lình, thành thạo và gọn gàng.

Lần hầu đồng đáng nhớ nhất của Vương Thiệu Phong là khi đức Thánh Trần báo mộng.

Nghề nào cũng có nhiều khó khăn, vậy việc làm thanh đồng “diện Thánh” như anh sẽ có những vấn đề như thế nào?

Khó khăn của nghề này làm tôi cũng thật bối rối và khó nói. Phần lớn các ông đồng cũng ít nói về khó khăn của mình, họ chỉ xem như đó là một sự thử thách của các Ngài và mình cần phải kiên trì vượt qua. Vì là lĩnh vực tâm linh nên người theo đuổi nghề này phải tự làm việc với chính mình rất nhiều. Việc vượt qua khó khăn cũng chỉ có thể do tự bản thân mình chứ không nhờ cậy được sự hỗ trợ, giúp đỡ của bất kỳ ai.

Với tôi, có lẽ khó khăn nhất là những khi nhìn thấy những việc xấu, tin xấu, tương lai xấu của người đến thỉnh nhờ hỏi về tương lai. Nói thì sợ người nghe hoảng loạn, mất tinh thần. Không nói thì lại chẳng biết phải làm gì. Giống như y bác sĩ luôn phải đứng trước sự lựa chọn trong việc thông báo tình hình bệnh tật diễn biến xấu cho bệnh nhân hay không, những người làm nghề như tôi cũng phải đắn đo rất nhiều trước khi nói ra một hung tin. Bởi chắc chắn tin tức xấu sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến tâm trạng thậm chí khiến người hỏi suy sụp, thất vọng, nản chí. Có lẽ, đó là khó khăn lớn nhất đối với tôi trong suốt những năm làm nghề.

Nghề hầu đồng có nhiều khó khăn mà các thanh đồng phải tự nỗ lực vượt qua.

Thực ra ngoài chuyện mọi người coi trọng thì nghề của anh vẫn còn những biến tướng như mọi người cầu lô đề hoặc những thứ về lợi ích cá nhân. Anh nói gì về điều này?

Tất cả các tôn giáo, đều phục vụ lợi ích cho loài người. Nói cách khác, tôn giáo không đáp ứng được lợi ích về mặt tâm linh hay tinh thần cho con người thì con người không tự nguyện tìm đến với tôn giáo. Mỗi cá nhân lại có những nhu cầu rất riêng khi tìm đến với tôn giáo nói chung, với đạo Mẫu nói riêng như cầu tài, cầu lộc, cầu công danh, cầu con cái, cầu tình duyên, cầu sức khoẻ, cầu bình an, v.v… Không nên có suy nghĩ việc tìm đến tôn giáo với mục đích là hành vi xấu. Mục đích thiện lành chính là động lực để con người ta theo đuổi một nền văn hóa tín ngưỡng.

Người ta đến với Đạo Mẫu bằng rất nhiều tâm thức và rất nhiều sự mong cầu đa dạng. Vì vậy sự biến tướng, hoặc phá cách cũng là dễ hiểu bởi do thời kì cách mạng văn hoá quá lâu, các lề lối, quy chuẩn cũng bị mất mát đi nhiều. Cộng thêm, đời sống xã hội văn minh, có thêm nhiều nghề nghiệp, việc làm mà trước đây chưa từng có, như internet, nghề phi công, nghề truyền hình chẳng hạn. Do sự kế thừa bị đứt đoạn và do xã hội phát triển thịnh vượng mạnh mẽ, nên sự biến tướng có lẽ ở nghề nào cũng khó mà tránh khỏi. Thêm vào đó, các lề lối, quy chuẩn của Đạo mẫu cũng bị mất mát nhiều trong quá trình truyền thừa,… Chúng ta không thể ngăn cản được sự biến tướng. Đó là quy luật, là điều tất yếu phải xảy ra ở bất kỳ lĩnh vực nào trong xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tâm linh. Đôi khi chính những sự biến tướng đó lại giúp người ta trân trọng hơn những giá trị thật, từ đó tôn vinh những điều chân thật đẹp đẽ trong cuộc sống. Bởi đích đến cuối cùng của các tôn giáo, văn hóa tín ngưỡng đều là 3 chữ Chân – Thiện – Mỹ.

Theo Vương Thiệu Phong, sự biến tướng của nghề hầu đồng là tất yếu.

Hơn 10 năm làm nghề, bản thân một thầy đồng như anh đã gặp tình trạng đó khi người khác tìm tới mình chưa? Phản ứng của anh ra sao?

Người giác ngộ, thì sẽ biết ăn hiền ở lành làm gốc, nên cầu ở mình hơn cầu ở người, họ đi lễ chỉ vì tỏ lòng kính trọng, biết ơn với các bậc bề trên, các bậc tiền nhân. Có người thì vì tin, nhưng chưa giác ngộ thì cầu rất nhiều thứ, nhiều việc. Tất cả đều nằm ở nhận thức của người đến thỉnh. Không dễ để người đến thỉnh cầu hiểu được đúng, đủ, sâu về vấn đề này. Vì thế, cần có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tái nhận thức mới có thể giác ngộ. Nếu không hiểu chính xác, những người thỉnh nhờ rất dễ có những mong cầu không đúng đắn, dẫn đến hành vi không tốt cho cộng đồng xã hội.

Có vị Đại Đức từng nói: Nếu đặt cái máy ghi âm trước ban thờ, ghi lại mọi điều cầu nguyện khấn vái của thập phương, thì ngay cả đến Thủ Tướng chính phủ cũng không thể giải quyết nổi! Ai làm nghề gì ai làm việc gì, ai có sự gì thì đều đến nơi linh thiêng cầu thuận lợi cho mình việc ấy sự ấy! Tất nhiên những việc pháp luật cho phép thì họ nhờ tới thầy, những việc pháp luật ngăn cấm thì dĩ nhiên là họ không dám nhờ thầy, sợ lạy ông tôi ở bụi này.

Tạm kết:

Với việc tín ngưỡng thờ mẫu được UNESCO công nhận, các lễ hầu đồng diễn ra dường như càng ý nghĩa hơn. Cũng phải nhấn mạnh, cùng với việc đời sống vật chất người dân được cải thiện theo thời gian thì đời sống tinh thần cũng ngày một được chú trọng, đặc biệt là những nghi thức mang tính tâm linh như hầu đồng. Việc người dân tin tưởng, tìm đến một thanh đồng nào đó cho thấy họ có mong muốn được hướng thiện, tin vào Thánh để làm việc tốt ở đời. Nhận thức của người dân ngày càng phát triển theo hướng đúng đắn đồng nghĩa với việc văn hóa hầu đồng không còn bị cho là một hình thức “mê tín dị đoan”, kiếm tiền bất chính của các thầy đồng. Các thanh đồng theo đuổi nghề nghiệp đặc biệt này có sứ mệnh giáo dưỡng tư tưởng, thay đổi nhận thức và hành vi, giúp con người hướng tới những điều thiện lành. Nếu hiểu bản chất của văn hóa hầu đồng là như vậy, thật khó để tiếp tục giữ những định kiến không đúng về những người lựa chọn đi trên con đường này.

Những gì mà Vương Thiệu Phong đang làm, để nói ra không hề dễ bởi tính đặc trưng của công việc. Chỉ biết rằng, với một người trẻ như anh nhưng đã dành ra 10 năm cuộc đời mình để “lên đồng” thì nét văn hoá này không chỉ là công việc mà còn là cuộc đời, để từ đó, Vương Thiệu Phong không chỉ tự “răn” bản thân làm việc thiện mà còn hướng được nhiều hơn những con người “trở về” với cội nguồn một cách đúng đắn nhất, không có điều xấu nào có thể xen vào. Đó cũng chính là thiên mệnh của những người theo cái nghề cái nghiệp đặc thù này.

Linh Linh

Trả lời

*